Tư tưởng triết học giáo dục của Plato

Plato không trình bày một cách hệ thống và trực tiếp về giáo dục, nhưng trong các tác

phẩm của ông đây là một chủ đề được đặc biệt quan tâm. Xuất phát từ quan niệm coi bản chất con

người được quy định sẵn từ phần linh hồn, mỗi phần linh hồn có chức năng khác nhau, Plato luận

giải về khả năng nhận thức của con người. Trên cơ sở đó, ông đưa ra tư tưởng về giáo dục dựa trên

nguyên tắc tôn trọng khả năng tự nhiên của mỗi người. Đối tượng giáo dục là các công dân của

nhà nước lý tưởng. Quá trình giáo dục trải qua hai giai đoạn cơ bản: giáo dục nhân cách và tri

thức. Mục đích chủ yếu của giáo dục là đào tạo tầng lớp cai trị trong nhà nước lý tưởng với các

phẩm chất: thông thái, can đảm, tiết độ, công bằng. Những tư tưởng giáo dục của Plato gắn liền

với quan niệm triết học chính trị đã để lại những thông điệp còn nguyên giá trị đến ngày nay.

pdf 8 trang dienloan 5340
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng triết học giáo dục của Plato", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

Tóm tắt nội dung tài liệu: Tư tưởng triết học giáo dục của Plato

Tư tưởng triết học giáo dục của Plato
Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 
 21
Tư tưởng triết học giáo dục của Plato 
Nguyễn Thị Thanh Huyền* 
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội 
Nhận ngày 01 tháng 5 năm 2015 
Chỉnh sửa ngày 07 tháng 5 năm 2015; Chấp nhận đăng ngày 20 tháng 5 năm 2015 
Tóm tắt: Plato không trình bày một cách hệ thống và trực tiếp về giáo dục, nhưng trong các tác 
phẩm của ông đây là một chủ đề được đặc biệt quan tâm. Xuất phát từ quan niệm coi bản chất con 
người được quy định sẵn từ phần linh hồn, mỗi phần linh hồn có chức năng khác nhau, Plato luận 
giải về khả năng nhận thức của con người. Trên cơ sở đó, ông đưa ra tư tưởng về giáo dục dựa trên 
nguyên tắc tôn trọng khả năng tự nhiên của mỗi người. Đối tượng giáo dục là các công dân của 
nhà nước lý tưởng. Quá trình giáo dục trải qua hai giai đoạn cơ bản: giáo dục nhân cách và tri 
thức. Mục đích chủ yếu của giáo dục là đào tạo tầng lớp cai trị trong nhà nước lý tưởng với các 
phẩm chất: thông thái, can đảm, tiết độ, công bằng. Những tư tưởng giáo dục của Plato gắn liền 
với quan niệm triết học chính trị đã để lại những thông điệp còn nguyên giá trị đến ngày nay. 
Từ khóa: Plato, con người, giáo dục. 
Triết gia Đức Karl Jasper đã từng nói [1], 
toàn bộ triết học phương Tây chỉ là những dòng 
cước∗chú dưới những trang sách của Plato1. 
Ông đã để lại cho nhân loại một di sản triết học 
lớn bao trùm nhiều lĩnh vực: bản thể luận; nhận 
thức luận; đạo đức học; chính trị - xã hội... 
Trong số các tác phẩm của ông không có tác 
phẩm nào trực tiếp bàn một cách hệ thống về 
giáo dục, nhưng đây lại chính là một chủ đề 
được đặc biệt quan tâm. Những tư tưởng triết 
học về giáo dục được Plato trình bày qua một 
_______ 
∗ ĐT.: 84-989148349 
 Email: thanhhuyen.khxhnv@gmail.com 
1 Plato (427-347 TCN) - Triết gia Hy Lạp cổ đại, xuất 
thân từ tầng lớp quý tộc cổ xưa nhất ở Athens, học trò của 
Socrate. Ông là triết gia phương Tây đầu tiên mà những 
tác phẩm viết tay của ông còn lưu truyền trọn vẹn đến 
ngày nay. 
vài tác phẩm, trong đó tập trung nhất là tác 
phẩm Cộng hòa, Luật pháp, Phaedo, Meno. Tư 
tưởng giáo dục của Plato gắn liền với tư tưởng 
triết học chính trị, với việc đào tạo các công dân 
trong nhà nước lý tưởng. 
1. Quan niệm về con người - cơ sở của tư 
tưởng triết học về giáo dục Plato 
Nền tảng của toàn bộ hệ thống triết học 
Plato là học thuyết ý niệm. Theo Plato, tồn tại 
đích thực không phải là thế giới sự vật cảm tính 
thường xuyên biến đổi mà là thế giới vô hình, 
bất biến, vĩnh viễn ở bên ngoài các sự vật vật 
chất - thế giới ý niệm.Ý niệm tạo nên cấu trúc 
tối cao của thế giới và không bị lệ thuộc vào 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 
22 
cấu trúc này. Ý niệm là mô thức lý tưởng của 
các sự vật, là bản chất, nguyên mẫu của sự vật, 
còn các sự vật chỉ là cái bóng, là sự mô phỏng 
lại ý niệm. Ý niệm là linh hồn của vạn vật. Sự 
vật chỉ có thể là nó khi nằm trong quan hệ với ý 
niệm. Vật chất là điều kiện cho sự tồn tại của sự 
vật, là bản nguyên thứ hai của sự vật, còn bản 
nguyên thứ nhất, cái tạo thành bản chất của sự 
vật là ý niệm - mô thức về nó. Trong thế giới ý 
niệm thì ý niệm Thiện là cao nhất, là ngọn 
nguồn của chân lý "Trong thế giới tri thức, Mô 
thể cơ bản của Sự Thiện (Cái Thiện - TG) là 
điều được tri giác sau cùng và khó khăn nhất. 
Một khi nó được tri giác, chúng ta sẽ phải kết 
luận rằng nó là nguyên nhân của tất cả những gì 
đúng và tốt; trong thế giới hữu hình, nó phát 
sinh ánh sáng và phát sinh ra chủ nhân của ánh 
sáng, trong khi nó là chúa tể của thế giới khả tri 
và là nguồn gốc của trí thông minh và chân lý. 
Nếu không có sự hiểu biết về Mô thể này không 
ai có thể hành động một cách khôn ngoan, dù là 
trong đời sống cá nhân hay trong các hoạt động 
cộng đồng" [2]. 
Theo Plato, con người do thần linh coi giữ 
và người đời chỉ là một phần trong sở hữu của 
các thần linh. Con người sống trong thế giới sự 
vật cảm tính, được tạo thành từ linh hồn và thể 
xác, giống như sự vật được tạo thành từ ý niệm 
và vật chất. Con người tức là linh hồn con 
người "Người ta không được mảy may thiếu tin 
tưởng vào nhà lập pháp. Tương tự như vậy, 
người ta cũng phải tin vào sự khẳng định của 
ông ta rằng linh hồn là một cái gì đó khác với 
thể xác. Tự bản thân linh hồn có cuộc đời riêng 
và nó chính là cái làm cho mỗi người chúng ta 
trở nên có ý nghĩa. Trái lại, thể xác là cái thân 
xác mà mỗi người phải cưu mang và chỉ là một 
cái bóng. Cái bóng này sẽ tiêu tan khi ta chết đi, 
còn cái con người đích thực với tư cách là bản 
chất bất tử hay linh hồn, thì trở về với các thiên 
thần và phúc trình ở đó" [3]. 
Điều khiển con người chính là linh hồn với 
ba phần; lý tính, xúc cảm và dục vọng, phần 
trội hơn tạo nên tính cách cá nhân. Mỗi loại linh 
hồn có những tác động riêng, vì vậy cần chú 
trọng để cả ba phần của linh hồn cùng được tập 
luyện tương thích nhau. Phần cao quý nhất của 
tâm hồn con người do Thượng đế ban cho, nó ở 
trong phần đầu của thân thể và "làm cho chúng 
ta lớn mạnh như cây cối, với sự phát triển 
không phải từ đất nhưng từ trời" [4]. Vì vậy nếu 
người nào chỉ chú trọng đến dục vọng và ham 
muốn thì kẻ đó làm cho ý nghĩ của mình đi đến chỗ 
chết và mặc dù anh ta còn tồn tại, mọi cái thuộc về 
anh ta đều đã chết. Như vậy, theo Plato, bản chất 
đích thực của linh hồn là tri thức và vô hình. 
Trong con người lý trí làm chủ, vì vậy, 
người hạnh phúc tuyệt vời là người chăm chỉ 
chuyên sâu yêu thích tri thức và sự khôn ngoan 
đích thực. Nếu người đó được huấn luyện để suy 
tư và hiểu rằng đó là những cái bất tử và linh 
thiêng của con người, nếu anh ta đạt đến sự bất 
tử, người ấy hẳn là được hạnh phúc tuyệt vời. 
Linh hồn con người có trước thể xác "Linh 
hồn...hiện hữu trước khi nhập vào thể xác; linh 
hồn biệt lập với thể xác; và linh hồn sở đắc 
năng lực nhận thức"[5]. Linh hồn bất tử, khi 
con người chết đi chỉ có thể xác phân hủy, linh 
hồn còn lại, vì linh hồn là cái tinh khiết, vô 
hình, cao cả không phải hợp chất, theo lẽ tự 
nhiên cái là hợp tố và hợp chất thế nào cũng tan 
vỡ thành phần cấu thành. Linh hồn con người 
tuân theo kiếp luân hồi2, (mất đi ở kiếp này, tái 
sinh ở kiếp khác). Trong tác phẩm Phaedo, 
cũng giống Socrate, Plato coi thể xác là nơi 
giam cầm của linh hồn. Linh hồn bị giam hãm 
trong thể xác giống như bị giam hãm trong nhà 
tù, vì vậy những linh hồn nào gắn nhiều với thể 
xác sẽ không được giải thoát, linh hồn đó "lang 
_______ 
2 Phật giáo cũng cho rằng cuộc đời con người tuân theo 
kiếp luân hồi và sự thác sinh luân hồi đó là do Nghiệp chi 
phối. 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 23
thang quanh quẩn mộ phần, mồ mả, nơi vong 
linh rập rờn, hình bóng mập mờ linh hồn tạo 
thành xuất hiện, linh hồn chưa giải thoát, chưa 
thanh tẩy, song thơ thẩn trong cõi hữu hình, vì 
thế nên nhìn thấy"[5]. 
Mục đích của cuộc đời con người là giải 
thoát linh hồn đưa nó trở về với cội nguồn nơi 
có sinh ra, tức thế giới vô hình, hoàn hảo - thế 
giới của cái chân, thiện, mỹ tuyệt đối. Muốn 
vậy, con người cần trau dồi đạo đức, để cư xử 
tốt ở đời. "Linh hồn sung sướng hơn hết, linh 
hồn có nơi nhập tốt đẹp hơn hết là linh hồn đã 
luyện tập, trau dồi đức tính của công dân bình 
thường - gọi là điều độ, chính trực"[5]. Những 
linh hồn như vậy lại được gia nhập nhóm sinh 
vật hiền lành, kỷ luật, có đầu óc xã hội như ong, 
kiến hoặc trở lại hàng ngũ loài người [5]. 
Linh hồn muốn đạt tới bản chất siêu việt, 
gia nhập hàng ngũ thần linh phải luyện tập triết 
học "Linh hồn chưa tập luyện triết học, khi từ 
giã cõi đời không hoàn toàn tinh khiết, không 
thể đạt tới bản chất siêu việt, không thể gia 
nhập hàng ngũ thần linh, bất kể linh hồn nào, 
trừ triết gia và linh hồn yêu mến sự hiểu biết"; 
"Thực tập triết học đúng đường lối kìm hãm, 
lánh xa, chế ngự, chống trả, cương quyết không 
đầu hàng đam mê thể xác"[5]. Linh hồn các 
triết gia chân thực luôn tránh xa lạc thú, thèm 
muốn, đau khổ, đam mê vô độ vì họ biết những 
thứ đó không những gây ra cảnh xấu xa con 
người phải gánh chịu mà họ nhìn thấy, mà còn 
tạo nên cảnh xấu xa khủng khiếp cực kỳ con 
người không hay biết. Vì vậy, triết gia chân 
chính không sợ chết mà dang tay đón nhận nó, 
vì như vậy linh hồn sẽ thoát khỏi nơi giam cầm. 
Theo Plato, nhiệm vụ của nhà triết học là 
giải thoát linh hồn khỏi thân xác "Khác hẳn mọi 
người trong nhân loại triết gia tìm đủ cách tách 
linh hồn khỏi thể xác"[5]. Nhưng con đường 
của nhà triết học không phải rút lui khỏi thế 
giới, không phải là sống một nếp sống cô tịch 
để suy nghiệm như kiểu yoga, mà là dấn thân 
vào thế giới. Sự dấn thân này ở ba lĩnh vực: 
chính trị, giáo dục và tình yêu. Trong đó lĩnh 
vực giáo dục và chính trị có mối liên hệ mật 
thiết với nhau. 
Ngay trong ẩn dụ Hang động, Plato cũng 
quan tâm đến việc làm cho các nhà triết học sau 
khi giác ngộ sẽ đi trở lại hang động để giải 
phóng những người khác khỏi xiềng xích và 
chữa lành sự ngu dốt của những người đó, cũng 
giống như trước kia họ đi lên khỏi Hang động. 
Và điều quan trọng là triết gia chính là người có 
thể hiểu biết về thế giới ý niệm, đặc biệt là ý 
niệm Thiện, vì vậy họ yêu mến nó. Và điều đó 
khiến họ mong ước thế giới thường ngày phải 
giống các ý niệm cao nhất. Cũng như vậy, các 
nhà triết học biết thế nào là công bằng, vì vậy 
họ thấy có nghĩa vụ góp phần thiết lập sự công 
bằng trên thế giới, tham gia vào đời sống chính 
trị và tham dự vào công việc cai trị trong nhà 
nước lý tưởng. Muốn có một linh hồn tinh 
khiết, thoát khỏi sự lệ thuộc vào đam mê thân 
xác, điều khiển được thân xác, con người cần 
phải được đào luyện. 
Trong tác phẩm Cộng hòa và hội thoại 
Timaeus, Plato bắt đầu nhấn mạnh đến sự cân 
bằng giữa thể xác và linh hồn trong mẫu hình 
con người toàn diện. Mặc dù nhấn mạnh vai trò 
điều khiển của linh hồn trong con người, nhưng 
Plato ủng hộ quan niệm về một mẫu hình hài 
hòa giữa thể lực và trí lực. Bất tương xứng về 
thể lực và trí lực là một điều rất không tốt cho 
con người toàn diện. "Một tinh thần minh mẫn 
trong một thân xác khỏe mạnh sẽ là cái đẹp đẽ 
và đáng yêu nhất trong những điều đang ngắm 
nhìn của một kẻ có con mắt để nhìn"[4]. Nếu 
trong một con người mà hồn mạnh hơn xác sẽ 
làm náo loạn và gây mất trật tự toàn bộ bản chất 
bên trong của con người, khi nóng lòng theo 
đuổi tri thức, nó gây ra sự tàn phá. Nếu thân xác 
to lớn mà linh hồn nhỏ bé, mất nhạy cảm, đần 
độn và cẩu thả sinh ra ngu dốt, vốn là căn bệnh 
nặng nề nhất. 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 
24 
Chính vì vậy, Plato cho rằng người nào học 
hành nghiêm túc, không được quên rèn luyện 
thân thể. Tư tương tự như vậy, người nào có 
thân hình khỏe mạnh cũng không được quên 
trau dồi trí tuệ. Ông ủng hộ cuộc sống biết kết 
hợp giữa ham thích và hiểu biết. 
Cách bảo vệ chống cả hai thái cực trên là 
vừa tác động vào thể xác, vừa tác động vào tâm 
hồn. Điều này thuộc về vai trò của giáo dục và 
con người cần được giáo dục để trở thành một 
con người hiểu biết, kiềm chế được những ham 
muốn thể xác và trở thành công dân đức hạnh 
trong nhà nước lý tưởng. 
2. Quan niệm về vai trò, đối tượng và nội 
dung giáo dục 
Plato đề cập đến vai trò của giáo dục ngay 
trong tác phẩm Phaedo "Vì đi xuống âm phủ 
linh hồn không mang theo cái gì trừ giáo dục và 
cung cách đã sống, hai phạm trù cực kỳ quan 
trọng... nghe người ta nói đem lại lợi ích lớn lao 
hoặc tai ương ghê gớm"[5]. Quan niệm này tiếp 
tục được khẳng định trong tác phẩm Cộng hòa. 
Đào tạo các công dân cho nhà nước lý tưởng là 
tư tưởng bao trùm của Plato trong tác phẩm 
này. "Muốn có được nhà nước lý tưởng cần giáo 
dục các công dân ngay từ khi còn trẻ, giáo dục 
đóng vai trò quyết định hình thành nhân phẩm 
công dân tương lai... Mọi người được giáo dục 
theo hướng nào thì sẽ quyết định đời sống tương 
lai của họ theo hướng đó" [2]. Như vậy, đối tượng 
mà nền giáo dục hướng đến là các công dân tương 
lai của nhà nước lý tưởng. Theo Plato, cần phải 
lựa chọn và đào tạo các thành viên trong quốc gia 
dựa trên cơ sở tôn trọng tài năng, qua đó tạo điều 
kiện cho phép họ phát huy những phẩm hạnh 
tương ứng với bổn phận và trách nhiệm trong 
tương lai. Điều này có thể thực hiện thông qua 
một nền giáo dục dân chủ. 
Plato coi trọng giáo dục, nhưng không phải 
là nền giáo dục cưỡng chế, áp đặt từ bên ngoài 
mà phải là một nền giáo dục phù hợp với năng 
khiếu tự nhiên của con người "Giáo dục không 
phải là cái được định nghĩa bởi một số người 
chủ trương đưa tri thức vào một linh hồn không 
có nó, như thể họ có thể đưa ánh sáng vào 
những con mắt mù lòa"[2] 
Trong thời đại Plato sống, xã hội Hy Lạp 
đang chịu ảnh hưởng giáo dục của các nhà 
Ngụy biện. Họ tạo nên một nền giáo dục sai 
lầm, có thể dẫn đến sự suy đồi của chính các 
triết gia vì mục đích của các nhà Ngụy biện là 
dạy con người chiến thắng bằng mọi cách trong 
tranh luận. Từ thực tiễn như vậy, ông đòi hỏi 
xây dựng một lối giáo dục đúng đắn, phù hợp 
với năng khiếu tự nhiên của mỗi người. "Nếu 
các công dân của chúng ta được giáo dục tử tế 
và lớn lên thành những con người biết lý lẽ, thì 
họ sẽ dễ thấy rõ con đường họ phải theo giữa 
biết bao nhiêu điều khác.... Việc dưỡng dục tốt 
sẽ cấy trồng được những thể chất tốt và những 
thể chất tốt ăn rễ sâu trong nền giáo dục tốt sẽ 
ngày càng tiến bộ, và sự tiến bộ này sẽ ảnh 
hưởng đến nòi giống nơi con người và loài vật" 
[2]. Theo Plato, các thiên khiếu bẩm sinh to lớn 
nhất, nếu bị giáo dục trệch hướng, sẽ trở thành 
những con người xấu một cách tột độ. Những ai 
được giáo dục đúng đắn đều trở thành người tốt. 
"Không được xem thường giáo dục, vốn là điều 
đầu tiên và đúng đắn nhất mà một người tốt luôn 
phải có và là cái, dù có bị trệch hướng, vẫn có thể 
sửa đổi được. Công việc sửa đổi này là việc lớn 
lao trong đời mỗi người khi còn sống" [3]. 
Giáo dục mà Plato nói đến phải là nền giáo 
dục công lập. "Hãy để người bảo vệ luật pháp, 
cũng là người bảo vệ giáo dục theo dõi sát sao 
và chú tâm đặc biệt đến việc rèn luyện con cái 
chúng ta, dẫn dắt bản tính chúng và luôn luôn 
hướng chúng đến điều tốt theo pháp luật" [3]. 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 25
Đối tượng được tuyển chọn vào hệ thống 
giáo dục phải là những người lành mạnh cả về 
thể chất và tinh thần. Chính vì vậy, giai đoạn 
đầu tiên của giáo dục là sự đào luyện tính cách 
nhờ đó học sinh biết tự chủ về tâm hồn và thể 
xác để trang bị cho họ chống lại những cám dỗ 
của giác quan và sự a dua theo các ý kiến thời 
thượng. Để thực hiện điều đó hai môn học đầu 
tiên phải dạy cho trẻ là môn âm nhạc và thể dục 
"Nền giáo dục có hai phần, thể dục cho thân thể 
và âm nhạc cho tâm hồn" [2] 
Âm nhạc là môn học được đưa vào giảng 
dạy đầu tiên khi trẻ chưa tới tuổi học thể dục. 
Khi còn nhỏ, người ta sẽ kể cho trẻ nghe các 
câu chuyện thần thoại nào nói về lòng dũng 
cảm, về điều thiện, điều tốt của các vị thần. Sau 
đó mới dạy các loại hình âm nhạc khác. Âm 
nhạc có vai trò quan trọng cho hình thành phẩm 
hạnh của con người. "Huấn luyện âm nhạc là 
một dụng cụ mạnh hơn mọi thứ khác, bởi vì tiết 
tấu và âm điệu tìm được lối đi vào nơi sâu thẳm 
của tâm hồn, chúng gắn chặt vào tâm hồn với 
đầy sức mạnh, tạo sự diễm lệ cho tâm hồn và 
làm cho tâm hồn của người được giáo dục đúng 
trở thành diễm lệ, hay làm cho người không 
được giáo dục đúng trở thành xấu xa" [2]. Mục 
đích của âm nhạc là yêu cái đẹp, giúp tâm hồn 
con người hài hòa cân đối. Trong tác phẩm Luật 
pháp, Plato đề cập đến phương pháp giáo dục 
trẻ trong những năm đầu đời thông qua nhận 
thức về thú vui và hình phạt, vui thú chủ yếu là 
nhờ múa hát. Trong ba năm đầu tiên trẻ em chỉ 
cần được quan tâm về sự phát triển thể xác. Từ 
ba đến sáu tuổi chúng có thể chơi thể thao và 
các trò chơi. Khi lên sáu tuổi, nếu muốn, trẻ có 
thể luyện võ công. Giáo dục dành cho tất cả 
mọi người. Thể dục và âm nhạc phải được dạy 
như nhau cho cả trẻ nam cũng như nữ. Mặc dù 
cho rằng cả trẻ nam và nữ đều được giáo dục 
như nhau, nhưng trong một số đoạn miêu tả quá 
trình học tập của trẻ ở tác phẩm Luật pháp, 
Plato chỉ nói tới trẻ nam. Nếu vậy, phụ nữ sẽ 
không thể đảm nhiệm chức vụ cao trong nhà 
nước, khác với điều mà ông đề cập đến trong 
tác phẩm Cộng hòa. Đây cũng là mâu thuẫn 
trong quan niệm của ông. 
Cùng với âm nhạc, trẻ cần được tập luyện 
thể lực qua môn thể dục. "Chế độ thể dục hoàn 
hảo là chị em song sinh với âm nhạc đơn sơ" 
[2]. Môn thể dục mà Plato đặc biệt nói đến là 
thể dục quân sự, để rèn luyện các chiến binh 
cho nhà nước lý tưởng sau này. Âm nhạc cùng 
với thể dục đơn sơ sẽ tạo nên sự điều độ trong 
tâm hồn và một thể chất khỏe mạnh. Hai môn 
học này được dạy từ khi trẻ còn nhỏ và phải 
được duy trì tiếp tục suốt đời. Mục đích của 
việc học hai môn âm nhạc và thể dục đều 
hướng đến sự phát triển tâm hồn. "Điều tôi tin 
tưởng là, không phải một thân thể khỏe mạnh 
tốt đẹp làm cho tâm hồn tốt đẹp, nhưng ngược 
lại, một tâm hồn đẹp, nhờ sự tuyệt hảo của nó, 
làm cho thân thể tốt đẹp" [2]. 
Một tâm hồn hài hòa thì vừa tiết độ, lại vừa 
can đảm. Ở đây Plato nhấn mạnh đến một nền 
giáo dục đức hạnh "nó làm cho con người háo 
hức theo đuổi lý tưởng tuyệt hảo của người 
công dân, dạy bảo họ cai trị sao cho phải lẽ và 
đồng thời cũng biết vâng phục" [3]. 
Đây là các phẩm chất cần có của những 
người đứng đầu trong nhà nước lý tưởng. 
"Người nào phối hợp được âm nhạc với thể dục 
ở một tỷ lệ thích hợp nhất và điều hòa chúng tốt 
nhất cho linh hồn, thì người ấy có thể dược gọi 
là nhạc sĩ phối khí đích thực" [2]. 
Như vậy, giai đoạn đầu tiên của giáo dục là 
nhằm rèn luyện tính cách cho con người, sao 
cho họ trở thành những con người cân đối, hài 
hòa, không bị lệ thuộc vào các đam mê thể xác. 
"Trong khi sống ... sẽ gần gũi hiểu biết hơn hết 
nếu kìm hãm càng mạnh càng tốt kết hợp với 
thân xác, hoặc tăng gia tiếp xúc với thể xác 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 
26 
nhiều hơn cần thiết, nếu không bị nhiễm độc vì 
bản chất thể xác, nhưng thanh tẩy bản thân tới 
khi thần linh giải thoát" [5]. 
Giai đoạn thứ hai của giáo dục là đưa vào 
các môn học tri thức trừu tượng như: Thiên văn 
học, số học, hình học. Trong số các môn khoa 
học và nghệ thuật thì toán học được coi là đứng 
đầu, đồng thời là một dạng lý tưởng mà các 
môn nghệ thuật và khoa học hướng đến. Môn 
Thiên văn học được hiểu là khoa học về chuyển 
động học một cách thuần túy và nó có ý nghĩa 
ứng dụng nhiều hơn lý thuyết. Để công việc 
giáo dục đạt mục tiêu mỗi người được đào tạo 
phù hợp với năng lực sau này đảm nhận công 
việc phù hợp, cần trải qua các kỳ thi khác nhau. 
Sau mỗi kỳ thi sẽ tìm ra những người phù hợp 
với các công việc khác nhau trong nhà nước lý 
tưởng. Những người còn lại cuối cùng sau mỗi 
kỳ thi sẽ tiếp tục học môn triết học và trải qua 
thực tiễn để trở thành người đứng đầu trong nhà 
nước lý tưởng. Môn biện chứng pháp - triết học 
là khoa học duy nhất không dựa vào các giả 
thuyết để làm vững nền tảng của mình "Biện 
chứng pháp là mấu chốt của mọi khoa học và 
được đặt cao hơn mọi khoa học; không một 
khoa học nào được đặt cao hơn nó" [2]. Chính 
vì vậy, những người được chọn học môn học 
này phải là người chắc chắn nhất, dũng cảm 
nhất và phải có các thiên khiếu tự nhiên giúp họ 
tiếp thu nền giáo dục một cách dễ dàng. Khi 
phê phán thực trạng xã hội Hy Lạp lúc đó để 
triết học trong tay những người không có năng 
khiếu khiến cho triết học trở nên không có ích, 
Plato đòi hỏi chỉ dạy triết học cho những người 
có thiên khiếu về nó. "Con cái đích thực của 
triết học phải nắm tay triết học, chứ không phải 
các đứa con hoang" [2]. 
Mục đích cao nhất của nền giáo dục của 
Plato là đào tạo người cầm quyền trong nhà 
nước lý tưởng với các phẩm chất cơ bản: Thông 
thái, can đảm, tiết độ, công bằng. Những con 
người có đủ những phẩm chất đó là những 
người tài giỏi, khôn ngoan nhất, đức hạnh nhất. 
Can đảm theo Plato có hai loại, một loại can 
đảm giúp cho con người chống lại sợ hãi và dạy 
họ chịu đựng được gian khổ; và một loại 
khuyến khích con người chống trả các cuộc tấn 
công âm ỉ của khoái lạc và ham muốn. Muốn 
vậy, họ phải được giáo dục ngay từ đầu để 
chống lại sự cám dỗ của khoái lạc. Đó cũng là 
điều mà Socrate đã đưa ra trong đạo đức học. 
Người anh hùng không phải là người chiến 
thắng kẻ thù bên ngoài mà chính là người chiến 
thắng được kẻ thù bên trong. Plato đặc biệt 
nhấn mạnh đến giáo dục các phẩm hạnh đạo 
đức cho con người, trong đó đã bao hàm khả 
năng trí tuệ của con người. Về điều này, giống 
với Socrate, ông coi đức hạnh chính là tri thức 
và người có đức hạnh phải là người có tri thức, 
hiểu biết. 
Quan niệm của Plato về sự bất tử của linh 
hồn, về vòng luân hồi của các linh hồn có ý 
nghĩa lớn trong giáo dục đạo đức cho con người 
khi đang sống. Những người chết trước tiên 
được xét xử theo các hành vi họ đã làm và 
những kẻ không trị nổi sẽ bị ném vào vực 
Tartarus và không bao giờ được lên khỏi đó. 
Những người chỉ phạm những tội nhẹ thì trước 
tiên phải được tẩy sạch những tội đó, rồi được 
thưởng vì các việc lành họ đã làm. Những 
người phạm tội ác to lớn mà không được tha thì 
bị ném vào dòng xoáy vô tận của các con sông 
trong vực Tartarus. Những linh hồn thanh sạch 
cũng nhận phần thưởng và được ở trên phần đất 
cao, một ít người được tuyển chọn còn được ở 
"nơi ở" đẹp hơn. Trong quan niệm của Plato, 
bản tính con người được qui định sẵn từ phần 
linh hồn của họ, vì vậy mọi điều khác đều dựa 
vào linh hồn và mọi điều của linh hồn đều dựa 
vào sự khôn ngoan, nếu chúng muốn là những 
điều tốt đẹp. "Tất cả những gì mà linh hồn cố 
gắng chịu đựng, khi được sự khôn ngoan hướng 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 27
dẫn, thì dẫn đến hạnh phúc; nhưng khi chịu sự 
điên rồ hướng dẫn thì ngược lại" [6]. 
Thực chất, tư tưởng triết học giáo dục của 
Plato hướng đến một bộ phận tầng lớp quý tộc 
trong xã hội chứ không phải cho tất cả mọi 
người dân, vì ông quan niệm không thể đưa 
giáo dục vào những linh hồn không thể có nó. 
Đồng thời, ông cũng đánh giá thấp bằng chứng 
của giác quan trong việc tìm ra chân lý, xem 
thường các cuộc thí nghiệm và thu thập các dữ 
liệu quan sát; ác cảm với nghệ thuật, coi nghệ 
thuật là mối nguy hiểm cho linh hồn chúng ta 
(trong xã hội lý tưởng nghệ thuật không được 
thừa nhận). Tuy nhiên, tư tưởng giáo dục của 
Plato cũng đặt ra một vấn đề mà giáo dục cần 
quan tâm là làm thế nào để con người có thể 
tiếp nhận sự giáo dục một cách tự nhiên, phù 
hợp với năng lực tự nhiên của mỗi người. Đồng 
thời Plato cũng đặc biệt nhấn mạnh đến giáo 
dục nhân cách, đạo đức cho con người trước khi 
truyền thụ những tri thức khoa học trừu tượng, 
như vậy dưới dạng sơ khai có thể hiểu mục đích 
của giáo dục là dạy làm người, điều mà mọi nền 
giáo dục hướng đến. 
Gắn liền với tư tưởng giáo dục, quan niệm 
của Plato về lựa chọn những người cầm quyền 
đủ tài và đức để nắm quyền là biện pháp để loại 
bỏ những kẻ bất tài, bip bợm ra khỏi chính 
quyền. Những người có đủ các phẩm chất trên 
đây để lãnh đạo quốc gia theo Plato chính là các 
triết gia. Chỉ khi nào các quốc vương là các triết 
gia và các triết gia trở thành các quốc vương, 
khi đó sẽ không còn mọi bất công và tệ nạn xã 
hội. Điều này phù hợp với thực trạng xã hội Hy 
Lạp lúc đó, khi những người thực sự hiểu biết 
chỉ có thể là các nhà thông thái- các triết gia. 
Tuy nhiên Plato cũng chuyển tải cho chúng ta 
một thông điệp đầy ý nghĩa: người lãnh đạo 
quốc gia nhất thiết phải là những người có tri 
thức, hiểu biết đến độ có thể thâm nhập tới bình 
diện thực tại nền tảng ẩn dưới những hiện tượng 
bề mặt. Có như vậy mới có thể xây dựng được 
các quyết sách phát triển đất nước phù hợp với 
thực tại xã hội. 
Plato chủ trương, những người cầm quyền 
phải là những người ưu tú nhất và phải được 
huấn luyện chu đáo nhất, chỉ những người được 
hoàn thiện nhờ thời gian và giáo dục mới được 
giao trọng trách của nhà nước. "Những nhà cai 
trị mới là những người giàu có, không phải về 
vàng bạc, nhưng giàu có về nhân đức và khôn 
ngoan, là hạnh phúc đích thực của đời sống" 
[2]. Nhà nước là một thể chế giáo dục nhằm 
mục đích thực hiện sự công bằng và cái thiện 
trên trần gian. Đó là những thông điệp vẫn còn 
giữ nguyên giá trị trong xã hội hiện nay. Ông 
xứng đáng với điều mà Aristotle đã từng nhận 
xét: Plato là người đầu tiên dạy chúng ta làm 
thế nào để vừa sống tốt lại vừa hạnh phúc. 
Tài liệu tham khảo 
[1] Bryan Magee, Câu chuyện triết học, NXB Thống 
kê, 2003 
[2] Plato, "Cộng hòa" trong: Benjamin Jowett & M.J. 
Knight, Plato chuyên khảo, NXB Văn hóa thông 
tin, 2008 
[3] Plato, "Luật pháp", trong Benjamin Jowett & M.J. 
Knight, Plato chuyên khảo, NXB Văn hóa Thông 
tin, 2008 
[4] Plato, "Hội thoại Timaeus", trong Benjamin 
Jowett & M.J. Knight, Plato chuyên khảo, NXB 
Văn hóa Thông tin,2008 
[5] Plato, "Phaedo", trong: Đỗ Khánh Hoan (dịch 
thuật), Ngày cuối trong đời Socrates, NXB Thế 
giới, 2013 
[6] Plato, "Meno", trong Benjamin Jowett & M.J. 
Knight, Plato chuyên khảo, NXB Văn hóa Thông 
tin, 2008 
N.T.T. Huyền / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 31, Số 2 (2015) 21-28 
28 
Plato Philosophical Thought about Education 
Nguyễn Thị Thanh Huyền 
VNU University of Social Sciences and Humanities, 
336 Nguyễn Trãi Road, Thanh Xuân Dist, Hanoi, Vietnam 
Abstract: Plato did not present directly his thought on education. But in his works, he paid special 
attention to this subject. Basing on the conception that human nature is defined by the soul and each 
soul plays different roles, Plato interpreted the cognitive abilities of human being. Therefore, he 
expressed his thought on education based on the principle of respect to human natural abilities. The 
object of education are citizens of the the ideal state. The process of education includes two main 
stages: education of personality and knowledge building. The purpose of education is to equip the 
rulers with qualities such as eruditeness, courage, harmony and justice. Plato’s thought on education 
associated with his political philosophy brings us messages which are still valuable until today. 
Key words: Plato, human, education. 

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_triet_hoc_giao_duc_cua_plato.pdf